Năm 1996, Nghị quyết Đại hội VIII nhận định “Nạn tham nhũng đang là một nguy cơ trực tiếp đe dọa đến sự sống còn của hệ thống chính trị”.

     I- Lấy đá ghè chân ai?

     Năm 2012, Nghị quyết Trung ương 4 (NQTƯ 4) nhận định: “Một bộ phận không nhỏ cán bộ, đảng viên, trong đó có những đảng viên giữ vị trí lãnh đạo, quản lý, kể cả một số cán bộ cao cấp, suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống với những biểu hiện khác nhau”. Nghị quyết nhấn mạnh: “Nếu không được sửa chữa sẽ là thách thức đối với vai trò lãnh đạo của Đảng và sự tồn vong của chế độ”.

     Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng trong bài phát biểu đầy tâm huyết đã đặt câu hỏi: “Vì sao công tác xây dựng Đảng được Trung ương rất coi trọng, đã có nhiều nghị quyết, chỉ thị rất đúng, rất hay, nhiều cuộc vận động sâu rộng, nhưng kết quả không đạt yêu cầu? Tình trạng suy thoái về tư tưởng, chính trị, đạo đức lối sống, tệ tham nhũng, lãng phí, hư hỏng trong một bộ phận không nhỏ cán bộ đảng viên, kể cả ở cấp cao, chưa được đẩy lùi mà thậm chí có chiều hướng nghiêm trọng hơn làm xói mòn niềm tin đối với Đảng?”.

     Sau bài phát biểu của Tổng Bí thư, các nhà lý luận đã nhiệt thành phân tích, mổ xẻ, góp ý kiến nhằm thực hiện tốt NQTƯ 4. Nguyên Viện trưởng Viện Nghiên cứu chiến lược Bộ Công an, Thiếu tướng Lê Văn Cương cho rằng: “Có thể nói, Liên Xô trước tan rã là một xã hội mất dân chủ, không chấp nhận nói ngược”; và, “Các nét lớn trong phương thức lãnh đạo của Đảng với Nhà nước giữa Việt Nam và Liên Xô cũ có nhiều điểm tương đồng”, do đó ông cho rằng: “Đúng là nếu ngay sau khi Liên Xô sụp đổ, ta chỉnh đốn Đảng ngay trên cơ sở bài học Liên Xô thì có lẽ tình hình đã không trầm trọng như hiện nay”. Thiếu tướng Lê Văn Cương và nhiều người khác cho rằng sự tha hóa trong Đảng là do quyền lực không được giám sát. Có ý kiến cho rằng điều khó khăn nhất để chỉnh đốn Đảng là “không ai lấy đá tự ghè vào chân mình”. Tôi không đồng ý với ý kiến này vì nó đồng nhất Đảng với kẻ thoái hóa. Kẻ thoái hóa chỉ là ung nhọt trên cơ thể Đảng! Tất cả đảng viên chân chính đều đồng lòng tìm mọi cách dù đau đớn nhất để loại bỏ nó khỏi cơ thể Đảng.

     Chủ tịch Hồ Chí Minh chẳng những đã rất sớm dự báo nguy cơ tha hóa của Đảng mà còn đề ra giải pháp căn bản để ngăn chặn, bài trừ nguy cơ đó. Người nói: “Chống tham ô, lãng phí quan liêu là dân chủ” (Toàn tập, Sự thật, 1986, tập 6, trang 271). Người lại nói “Muốn chống tham ô, lãng phí, chống quan liêu thì phải dân chủ” (TT, ST, 1986, T6, trang 285). Do đó, để thực hiện thắng lợi NQTƯ 4, chúng tôi cho rằng phải thực hiện tư tưởng Hồ Chí Minh: Dân chủ!

     II. Thực hiện dân chủ trong Đảng

     Xin nêu ra mấy điểm quan trọng nhất từ bài học sự sụp đổ của Đảng Cộng sản Liên Xô mà chúng ta cần nghiên cứu để khắc phục ngay. Những khuyết tật này có thể nhìn thấy trong sự kiện Tiên Lãng, Hải Phòng vừa qua cũng như ở nhiều vụ việc khác.

     1- Đảng bao biện công việc của Nhà nước là tình trạng kéo dài suốt 70 năm của Đảng Cộng sản Liên Xô. Nhiều văn kiện của Đảng Cộng sản Việt Nam cũng đã nêu tình trạng này và coi đó là một khuyết điểm cần phải sửa. Báo cáo của Ban Chấp hành T.Ư khóa X về các văn kiện Đại hội XI trong phần xây dựng Đảng có đoạn: “Khắc phục tình trạng bao biện, làm thay hoặc buông lỏng lãnh đạo của Đảng với các cơ quan nhà nước”. Thực tế, nhiều trường hợp Đảng quyết định từ chủ trương đến cách vận hành, Nhà nước chỉ theo đó mà thực hiện. Sự thống nhất như vậy không đem lại sức mạnh cho cả Đảng và Nhà nước mà tạo ra kẽ hở, khoảng trống và sự chồng chéo quyền lực. Sự “bao biện làm thay” này đã mở đường cho giặc tham nhũng, quan liêu, độc đoán tấn công vào Đảng, bào mòn tính chất dân chủ trong Đảng.

     Muốn khắc phục tình trạng này, chúng ta cần thực hiện đúng như văn kiện Đại hội XI: "Đảng lãnh đạo bằng cương lĩnh, chiến lược, các định hướng về chính sách và chủ trương lớn; bằng công tác tuyên truyền, thuyết phục, vận động tổ chức, kiểm tra, giám sát và bằng hành động gương mẫu của đảng viên”. Chúng ta có thể nghiên cứu, vận dụng kinh nghiệm về mối quan hệ giữa Đảng với Nhà nước của các đảng cầm quyền ở các nước phát triển.

     2- Văn kiện Đại hội XI viết: "Nhiều cấp ủy, tổ chức Đảng chưa làm tốt công tác kiểm tra, giám sát và thi hành kỷ luật Dảng, chất lượng và hiệu quả kiểm tra, giám sát chưa cao”. Tình trạng này dẫn đến hậu quả là nhiều đoàn kiểm tra, giám sát qua nhiều đợt hoạt động dài ngày vẫn không phát hiện hoặc kết luận được những vụ tham nhũng lớn!

     3- Tự do tư tưởng, tự do phát biểu ý kiến. Trong Đảng ta có quy định các đảng viên nói và làm theo nghị quyết. Điều ấy đúng, đã tạo nên sự nhất trí, sức mạnh hành động của toàn Đảng. Tuy nhiên, trong lịch sử của Đảng cũng cho thấy nhiều cá nhân đảng viên có ý kiến khác với nghị quyết, nhưng thực tiễn chứng minh ý kiến đó là đúng đắn, đó là ý kiến khoán trong nông nghiệp của đồng chí Kim Ngọc, ý kiến không nên cải tạo công thương nghiệp và nông nghiệp ở miền Nam của đồng chí Nguyễn Văn Linh... Chính Lênin khi nói về tự do phát biểu ý kiến, cũng cho rằng để phát huy dân chủ trong Đảng, cần có sự “bảo vệ quyền lợi cho bất kỳ thiểu số nào” (có cụm từ là cho “được bảo lưu”). Hiện nay quyền tự do tư tưởng, tự do phát biểu đã được rộng rãi hơn trước rất nhiều. Tuy nhiên, việc xử lý rộng hay hẹp còn do trình độ và quan điểm (có khi là do thân quen, vị thế) của cấp ủy địa phương, chứ chưa phải là quan điểm chung của Đảng.


Tống Văn Công
(nguyên Tổng Biên tập Báo Lao Động)